Bước đầu đánh giá kết quả phẫu thuật tim Tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang.
Bệnh lý tim mạch có khuynh hướng ngày càng gia tăng. Nhu cầu để chẩn đoán và điều trị bệnh tim mạch đòi hỏi chi phí y tế ngày càng cao. Đặc biệt, đối với những bệnh tim cần phẫu thuật thì đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chuyên sâu, trang thiết bị hiện đại và rất tốn kém

ThS. BS Danh Trung, BS.CK1 Huỳnh Hải Đăng.
BS Trần Văn Thành. TS.BS Phạm Văn Đởm.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ.

Hiện nay, Bệnh lý tim mạch có khuynh hướng ngày càng gia tăng. Nhu cầu để chẩn đoán và điều trị bệnh tim mạch đòi hỏi chi phí y tế ngày càng cao. Đặc biệt, đối với những bệnh tim cần phẫu thuật thì đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chuyên sâu, trang thiết bị hiện đại và rất tốn kém. Hàng năm, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang phải chuyển hơn 100 bệnh nhân lên các bệnh viện ở TPHCM để phẫu thuật tim. Ước tính, hiện nay số lượng bệnh nhân cần được phẫu thuật tim khoảng hơn 400. Từ nhu cầu thực tế đó, từ năm 2005 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang đã chuẩn bị nguồn nhân lực và các trang thiết bị cần thiết để phục vụ cho phẫu thuật tim. Từ tháng 5/ 2009, được sự hỗ trợ của Bệnh viện Chợ Rẫy TPHCM, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang đã bắt đầu triển khai kỹ thuật phẫu thuật tim và đến nay đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ. Qua thời gian đầu triển khai chúng tôi tổng kết lại nhẳm mục đích:

Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật tim tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang.

II.   ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

II.1. Đối Tượng Nghiên Cứu:

Những bệnh nhân được phẫu thuật tim tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang từ tháng 5/2009 đến tháng 8/ 2010.

II.2. Phương Pháp Nghiên Cứu: hồi cứu mô tả. 

III. KẾT QUẢ:

Từ tháng 5/2009 đến tháng 8/ 2010 chúng tôi đã phẫu thuật được 121 trường hợp bao gồm:

1.      Tuổi, Giới tính, Cân nặng:

- Tuổi trung bình: 20,6.  nhỏ nhất: 1 tuổi, lớn nhất: 81 tuổi

- Giới tính: nam: 52,  nữ: 69.

- Cân nặng: nhỏ nhất: 10 kg, nặng nhất: 65 kg.

2. Phân loại bệnh:

PHÂN LOẠI BỆNH

Số lượng

Tỷ lệ

Bệnh tim bẩm sinh

81

66,9%

            Còn ống động mạch

16

13,2%

            Thông liên nhĩ

16

13,2%

            Thông liên thất

45

37,2%

           Hẹp động mạch phổi

4

3,3%

Bệnh tim mắc phải

40

33,1%

           Bệnh 2 lá đơn thuần

24

19,8%

           Bệnh van động mạch chủ và van 2 lá.

10

8,3%

           U nhầy nhĩ phải

1

0,8%

           Bệnh mạch vành

2

1,6%

           Bệnh mạch vành và van 2 lá.

1

0,8%

           Phình bóc tách động mạch chủ ngực

2

1,6%

TỔNG SỐ

121

100%

 
3. Thời gian nằm ở phòng hồi sức:

Trung bình là: 3,4 ngày. Ít nhất là: 1 ngày, nhiều nhất là: 33 ngày.

4. Thời gian nằm viện:

Trung bình: 16,5 ngày. Ít nhất: 7 ngày, nhiều nhất: 40 ngày.

5. Kết quả sớm:

Biến chứng trong mổ: không.

Biến chứng sau mổ:

-         Chảy máu, mổ lại cầm máu:           1 (0,8%).

-         Tràn khí màng phổi:                        1(0,8%).

-         Tràn dịch màng phổi:                      2 (1,6%).

-         Tràn dịch màng ngoài tim: 4 (3,3%).

-         Loạn nhịp tim:                                  10 (8,3%).

-         Nhiễm trùng vết mổ:                        5 (4,1%).

-         Tử vong:                                            0.

Chuyển bệnh viện Chợ Rẫy:    2 (1,6%). 1 ca bệnh nặng xin về. 1 ca tiếp tục điều trị nội và cho xuất viện.

Kết quả sớm:                                           120/ 121 (99,2%).

 

IV. BÀN LUẬN:

Trong thời gian đầu triển khai phẫu thuật tim, chúng tôi chọn lọc những bệnh thông liên nhĩ, còn ống động mạch, thông liên thất chưa có biến chứng, bệnh lý không phức tạp, cân nặng ít nhất là 10 kg. Tuổi nhỏ nhất phẫu thuật là 1 tuổi, chẩn đoán: còn ống động mạch. Tuổi lớn nhất là 81 tuổi, chẩn đoán là hẹp nhiều nhánh mạch vành. Bệnh thường hay gặp là thông liên thất (37,2%) và bệnh lý van 2 lá (19,8%).

Trong 121 trường hợp, có 3 trường hợp chúng tôi phẫu thuật cấp cứu. 1 bệnh nhân nam, 58 tuổi, chẩn đoán: phình bóc tách động mạch chủ ngực đoạn quai và đoạn xuống, xử trí: thay quai động mạch chủ, tái tạo lại động mạch cảnh chung trái và thân tay đầu. 1 bệnh nhân nam, 22 tuổi, chẩn đoán: phình bóc tách động mạch chủ ngực/ hội chứng Marfan, xử trí: phẫu thuật Bental. 1 bệnh nhân nữ, 38 tuổi, chẩn đoán: u nhầy nhĩ phải, xử trí: cắt u nhầy, vá lại vách liên nhĩ. Cả 3 trường hợp này đều ổn định và xuất viện.

Có 2 trường hợp bệnh mạch vành chúng tôi chuyển bệnh viện Chợ Rẫy: 1 bệnh nhân được điều trị nội, xuất viện. 1 bệnh nhân nặng, xin về với chẩn đoán: viêm phổi đông đặc, suy thận, suy gan/ hậu phẫu bắc cầu nối chủ - vành.

Nhìn chung, qua thời gian đầu triển khai phẫu thuật tim chúng tôi đạt được tỷ lệ thành công là: 99,2%. Tuy nhiên, chúng tôi cũng gặp 1 số biến chứng, thường gặp nhất là loạn nhịp tim (8,3%) ở những bệnh nhân bị bệnh lý van 2 lá. Có 1 trường hợp phải mỗ lại vì chảy máu mặt sau xương ức. Trong 4 trường hợp tràn dịch màng ngoài tim, có 2 ca dẫn lưu khoang màng tim, 2 ca chọc hút dịch. Những biến chứng này đều được chúng tôi xử lý kịp thời và cho kết quả tốt.

Thời gian nằm hồi sức và thời gian nằm viện trong nghiên cứu của chúng tôi tương đối dài do trong thời gian đầu chúng tôi cẩn thận và giữ bệnh nhân ở phòng hồi sức để thuận tiện theo dõi. Sau này thời gian trên đã được rút ngắn nhiều.

Triển vọng trong thời gian tới, chúng tôi sẽ phẫu thuật cho những trường hợp bệnh đa đạng và phức tạp hơn.

 V. KẾT LUẬN

Qua thời gian 16 tháng triển khai phẫu thuật tim tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang với sự hỗ trợ của Bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi đã phẫu thuật được cho 121 trường hợp với tỷ lệ thành công là 99,2%. Phân loại bệnh phẫu thuật nhiều nhất là thông liên thất và bệnh lý van 2 lá.

Phẫu thuật tim là chuyên khoa sâu nhưng có thể triển khai được ở các bệnh viện tuyến tỉnh.

 VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Đào Hữu Trung (2006), “ Thông liên thất”. Bệnh học tim mạch, tập 2, 389 – 397.

2.      Elliot M. Antman, MD (2007), “Surgery for valvular heart disease”. Cardiovascular therapeutics. 815 – 841.

3.      Kirlin/ Barratt – Boyes (2003), “Ventricular septal defect”. Cardiac surgery, third edition, 850 – 909.

4.      Kirlin/ Barratt – Boyes (2003), “Patent ductus arteriosus”. Cardiac surgery, third edition, 928 – 945.

5.      Nguyễn Văn Phan (2008). “Điều trị phẫu thuật bệnh van tim”. Điều trị học ngoại khoa lồng ngực. 248 – 264

6.      Phan Kim Phương (2008). “ Điều trị các bệnh tim bẩm sinh thường gặp”. Điều trị học ngoại khoa lồng ngực. 265– 282.

7.      Phan Nguyễn Vinh (2006), “ Hẹp van 2 lá”. Bệnh học tim mạch, tập 2, 15 – 26.

8.      Robert M. Bojar (2005), “Early postoperative care”. Manual of perioperative care in aldult cardiac surgery. 237 – 258.

  

( LIÊN LẠC: BS DANH TRUNG, KHOA NGOẠI LỒNG NGỰC BỆNH VIỆN ĐA KHOA KIÊN GIANG, SỐ 46 LÊ LỢI, TP RẠCH GIÁ, KIÊN GIANG. FAX: 0773869918. ĐT: 0773869918. EMAIL: danhtrungmdkg@yahoo.com. Hoặc địa chỉ nhà riêng: 77 CÁCH MẠNG THÁNG 8, PHƯỜNG VĨNH LỢI, TP RẠCH GIÁ, KIÊN GIANG. ĐT: 0773910835, 09848873668.)Từ điển - Xem từ điển chi tiết

 

 

Nguồn: Hội PT TM & LN Việt Nam
  Đầu trang   |   In ấn 
Các bài viết khác: