Đánh giá thay đổi về huyết động và chức năng thất trái trên siêu âm Doppler tim ở các bệnh nhân phẫu thuật thay van hai lá cơ học loại Sorin Bicarbon
BUI MANH HUNG NGUYEN PHU KHANG HUYNH VAN MINH

Tai biến mạch máu não là một bệnh rất phổ biến trên thế giới. Trong các bệnh viện, 80% các rối loạn thần kinh do bệnh mạch máu não, tai biến chủ yếu của bệnh mạch máu não là đột quỵ não. [1] [2] [4] [12].
Theo tổ chức y tế thế giới, tử vong do đột quỵ đứng hàng thứ 2 sau bệnh tim, ở Mỹ đứng thứ 3 sau bệnh tim và ung thư.
Tỷ lệ đột quỵ theo tuổi, khoảng 1/4 các trường hợp xảy ra dưới 65 tuôi, khoảng 1/4 xảy ra dưới 75. Vì vậy đột quỵ là một cấp cứu y tế khẩn cấp.
Người ta nhận thấy bệnh nhân khi bị đột quỵ nếu thoát được tử vong thường chịu hậu quả với di chứng tàn phế nặng nề cả thể xác lẫn tinh thần [6] [7] [8].
Vấn đề chẩn đoán tai biến mạch máu não ngày nay không khó nhưng việc điều trị và tiên lượng vô cùng khó khăn.
Hiện nay y học đã phát triển, có rất nhiều ứng dụng trong điều trị đột quỵ não não như: [11][30].
-  Điều chỉnh huyết áp, chống phù não, duy trì đường máu, lưu thông đường thở, giảm thân nhiệt, tăng cường nuôi dưỡng.
- Một số trường hợp cần thiết phải can thiệp bằng ngoại khoa như: Kỹ thuật tạo hình động mạch qua da, giải phóng làm tiêu cục máu đông, nong lòng các động mạc hẹp...
Tuy nhiên trong thực tế, tỷ lệ tử vong sau đột quỵ não còn cao. Có rất nhiều yếu tố tiên lượng đã ảnh hưởng đến kết quả điều trị về cất lượng sống còn của bệnh nhân. Bên cạnh các yếu tố tiên lượng như: [2] [5] [9].
- Rối loạn ý thức vào viện (Glassgow < 7).
- Rối loạn hô hấp khi vào viện (có thở máy và tự thở qua ống NKQ).
- Có cơn co giật duỗi cứng mất não.
- Giãn đồng tử 1 bên hoặc 2 bên.
- Rối loạn thân nhiệt, sốt cao liên tục.
- Huyết áp tâm thu (> 200mmHg).
- Tuổi cao.
- nhồi máu não tái phát.
- Nhồi máu lớn,diện rộng
- Chuyển dịch đường giữa > 1cm.
Chúng tôi nhận thấy các yếu tố cận lâm sàng như:tăng cholesterol máu,tăng ngưng tập tiểu cầu với adenosinediphosphate(ADP) , fibrinogen corisol, CRP, công thức bạch cầu,... cũng liên quan đến tiên lượng bệnh nhân bị tai biến mạch máu não giai đoạn cấp. trong chuyên đề chúng tôi xin được đề cập đến:
- Tiên lượng đột quỵ thiếu máu não với tăng huyết áp ,tăng lipide máu ,tăng fibrinogen máu,tăng ngưng tập tiểu cầu
- Tiên lượng sau đột quỵ thiếu máu não.
Năm 1676 Willis đã phát hiện ra đa giác Willis, mở đàu cho những nghiên cứu về TBMMN. Năm 1740, Haller sau đó là Gravelhier (1616_, Riser (1936), Lazorthes (1961), Guiraud (1974) đã nghiên cứu về giải phẩu, sinh lý của tuần hoàn não

Nguồn: Hội PT TM & LN Việt Nam
  Đầu trang   |   In ấn 
Các bài viết khác: