Xử trí tổn thương sẹo hẹp khí quản và rò khí quản – thực quản bằng nối khí quản tận – tận trực tiếp và khâu đường dò thực quản.
Vũ Hữu Vĩnh, Ngô Quốc Hưng, Châu Phú Thi*

Đối tượng: Báo cáo kết quản phẫu thuật bệnh nhân bị hẹp khí quản hoặc/ và rò khí quản –thực quản, biến chứng của đặt ống nội khí quản (NKQ), mở khí quản (MKQ) kéo dài hoặc chấn thương, vết thương khí thực quản.

Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu 26 trường hợp hẹp khí quản hoặc/và rò khí quản – thực quản tuổi từ 19 tới 47 được phẫu thuật trong 3 năm (từ 7/2007 đến tháng 7/2010) tại khoa ngoại Lồng ngực bệnh viện Chợ Rẫy. Thời gian từ khi bắt đầu được mở khí quản hoặc bị chấn thương/vết thương tới thời điểm được phẫu thuật là từ 12 tháng tới 5 năm. Tổn thương của các bệnh nhân liên quan tới hầu hết các đoạn của khí quản.

Kết quả : Phương pháp phẫu thuật là nối khí quản tận tận và khâu đường rò thực quản. Tỷ lệ thành công là 23 ca chiếm (88,4%). Trong đó, 19 ca (73%) cho kết quả tốt. 2 ca (7,6 %) kết quả khá (một còn khàn tiếng, một còn hẹp thực quản phải nong lại nhiều lần sau mổ). 2 ca (7,6%) có kết quả trung bình. 2 ca (8,3%) thất bại (một ca bung chỗ nối khí quản tận tận 2 ngày sau mổ, một ca hẹp lại khí quản sau khi ra viện 3 ngày) phải mở khí quản lại. Có 1 ca tử vong (3,8%).

Kết luận: Sửa chữa một thì sẹo hẹp khí quản và rò khí thực quản bằng nối khí quản tận tận và khâu kỳ đầu đường rò thực quản là hoàn toàn khả thi, có tỉ lệ thành công cao và an toàn bất kể thời gian bị tổn thương. Nối khí quản tận – tận có thể áp dụng an toàn cho mất đoạn khí quản tới 4cm.

Từ khóa: Hẹp khí quản, rò khí thực quản.

* Khoa ngoại Lồng ngực – mạch máu, Bệnh viện Chợ Rẫy 

Management of tracheal stenosis and/or tracheoesophageal fistula with direct tracheal anastomosis and primary esophageal closure

Objective: We evaluated the outcome of the surgical repair for tracheoesophageal fistula and/or tracheal stenosis, which are usually complications of tracheostomy or tracheoesophageal injury.

Methods: From July 2007 to July 2010, twenty-six patients aged from 19 to 47 years old with tracheal stenosis and/or tracheoesophageal fistula were operated. The period from initial tracheostomy to the time of repair surgery ranges from 12 months to 5 years. Any part of the trachea was involved. All cases were repaired by direct end to end tracheal anastomosis and primary esophageal closure.

Result: Successful rate was 23/26 cases (88.4%). In which, 19 cases (73%) have very good results. 2 cases (7.6%) have good result (one with husky voice, one with esophageal stenosis that require dilatation of the esophagus postoperatively). 2 cases (7.6%) has medium result. 2 cases (7.6%) were failed. In one, tracheal anastomosis was ruptured 3 days after repaired operation and in the other, the trachea was restenosis. Tracheostomy was set up again for both. One death, mortality is 0.4%.

Conclusion: Primary repairing long-term post-tracheotomy tracheal stenosis and/or tracheoesophageal fistula is feasible, safe and have high successful rate regardless period of having those injuries. Tracheal missing length up to 4cm in could be repaired safely by direct end to end anastomosis.

Key words: tracheal stenosis, tracheoesophageal fistula 

•  ĐẶT VẤN ĐỀ:

Mặc dù các ống nội khí quản hoặc các ống mở khí quản hiện đang được sử dụng có cuff áp lực thấp nhưng trên thực tế khá nhiều bệnh nhân được đặt ống nội khí quản hoặc mở khí quản lâu dài có hẹp khí quản hoặc/ và dò khí quản – thực quản. Nguyên nhân có thể là kỹ thuật mở khí quản chưa đúng, thở máy lâu hoặc có nhiễm trùng kéo dài vùng mở khí quản. Một nguyên nhân nữa cũng thường gây hẹp khí quản hoặc dò khí quản thực quản là chấn thương hoặc bỏng hóa chất (uống nhầm hoặc cố ý).

Những bệnh nhân này thường phải đeo ống mở khí quản ở cổ nếu có rò khí quản – thực quản, có thêm một ống nuôi ăn ở bụng. Với 1 hoặc cả 2 ống này, chất lượng cuộc sống của người bệnh giảm rõ rệt ảnh hưởng không chỉ người bệnh mà cả người thân, xã hội.

Do có nhiều nguy cơ trong phẫu thuật phục hồi các tổn thương trên mà nhiều bệnh nhân chịu mang những ống này trong một thời gian khá dài. Nhiều bệnh nhân đã đi khám nhiều nơi nhưng không phải cơ sở phẫu thuật nào cũng nhận sửa chữa những tổn thương này cho người bệnh.

Đối với phẫu thuật sớm để sửa chữa các tổn thương trên, đã có nhiều nghiên cứu công bố ( 3 , 5 , 6 , 7 ). Tuy nhiên phẫu thuật muộn thì còn ít các báo cáo ( 2 , 4 ) .

Các nguyên nhân khác bao gồm chấn thương, vết thương hoặc bỏng do hóa chất, thường là do uống hóa chất gây tổn thương thực quản rồi tới khí quản.

Để sửa chữa các tổn thương đó, cần phải cắt bỏ đoạn khí quản bị hẹp, tắc hoặc biến dạng, nối khí quản lại và khâu lại đường rò thực quản.

•  MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Đánh giá kết quả sớm sau phẫu thuật hẹp khí quản và rò khí thực quản và chức năng đường thở, đường ăn tự nhiên và các biến chứng xảy ra sau khi được tái tạo. Đánh giá khả năng nối khí quản tận tận ở những tổn thương có mất đoạn khí quản lớn.

•  PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Hồi cứu những bệnh nhân hẹp khí quản hoặc/và rò khí quản, thực quản, những bệnh nhân phải đeo ống thở nhiều năm được phẫu thuật sửa chữa bởi cùng một nhóm phẫu thuật viên trong 3 năm (7/2007 – 7/2010) tại khoa phẫu thuật Lồng Ngực – Bệnh viện Chợ Rẫy

. Phân loại nguyên nhân bao gồm: 1- do đặt ống thở (NKQ, MKQ) kéo dài, 2- do chấn thương kín, 3- do vết thương dao đâm, 4 – do tổn thương bỏng hóa chất thực quản hoặc khí quản, 5- do bệnh lao.

Vị trí tổn thương khí quản được phân loại theo định hướng ngoại khoa đó là đường mổ để vào tổn thương đó. Bao gồm 1/3 trên, 1/3 giữa và 1/3 dưới.

Phương pháp phẫu thuật bao gồm chọn đường mổ thích hợp để có thể tiếp cận tốt nhất chỗ tổn thương và thuận lợi cho phẫu thuật. Đối với tổn thương khí quản 1/3 trên, chúng tôi mở đường cổ trước, đường mổ thường vòng qua lỗ mở khí quản. Đối với tổn thương khí quản 1/3 dưới và các phế quản gốc, chúng tôi mở đường ngực. Chỉ riêng tổn thương phế quản gốc trái đơn thuần chúng tôi mới mở ngực trái còn lại là mở ngực phải. Tổn thương khí quản 1/3 giữa có thể mổ đường cổ hoặc ngực, nhưng tốt nhất là mở đường cổ phối hợp với chẻ xương ức bán phần hoặc toàn phần. Đoạn khí quản tổn thương được cắt bỏ cho tới phần khí quản có khẩu kính bình thường và nối lại tận tận. Đường dò khí quản thực quản được tách rời, thực quản được khâu lại hai lớp bằng chỉ tự tiêu.

Đánh giá kết quả: chúng tôi đánh giá kết quả phẫu thuật theo tốt khá trung bình và xấu (thất bại). Tử vong không nằm trong đánh giá kết quả, được coi như là tai biến phẫu thuật.

•  Tốt: bệnh nhân trở về cuộc sống bình thường. Ăn và thở bằng đường tự nhiên không gặp bất kỳ trở ngại nào.

•  Khá: Kết quả chưa thật hoàn hảo, ví dụ có khàn tiếng sau mổ, hẹp thực quản sau mổ mà có thể nội soi nong được về bình thường.

•  Trung bình: Không sửa chữa hết các tổn thương, ví dụ chỉ đóng được đường dò khí thực quản mà không thể phục hồi khí quản do mất đoạn lớn hoặc dây thanh âm dính bít hoàn toàn.

•  Xấu: thất bại, chỗ nối khí quản bị bung ra hoặc khí quản bị hẹp lại sau mổ, phải mở khí quản lại hoặc phải mổ lại.

•  KẾT QUẢ

1. Tuổi:

<20 tuổi

20-45 tuổi

45-60 tuổi

>60 tuổi

1

23

2

0

3,8%

88,4%

7,6%

0

2. Giới:

Nam : 14 (53,8%), Nữ: 12 (46,2%)

3. Vị trí tổn thương khí quản:

1/3 trên

1/3 giữa

1/3 dưới, carina và phế quản

12

7

7

46,1%

26,9%

26,9%

 

Vị trí tổn thương được phân theo định hướng ngoại khoa đó là đường mổ để có thể tiếp cận tốt nhất với tổn thương. Trong 7 ca tổn thương khí quản 1/3 dưới, có 3 ca tổn thương khí quản ngay trên carina, 1 tổn thương phế quản gốc phải, 3 tổn thương phế quản gốc trái. 2 tổn thương phế quản gốc trái là sẹo hẹp do lao, đã đặt stent nhiều lần thất bại. Một ca sau mổ tốt, một ca có hẹp lại phải đặt stent lại nhưng theo dõi tới nay kết quả tốt không phải đặt stent lại nhiều lần như trước. 2 còn lại do chấn thương cũ, đứt rời hoàn toàn phế quản gốc gây xẹp phổi, viêm phổi xẹp và tới với chúng tôi sau 4-5 tháng bị chấn thương. Về chấn thương gây sẹo hẹp, chúng tôi chỉ tính những ca đến muộn còn tổn thương phế quản gốc mới và được phẫu thuật ngay thì khá nhiều và không được tính trong nghiên cứu này

Trong 7 ca tổn thương 1/3 giữa có 1 ca do chấn thương, 1 ca do vết thương. 2 ca do bỏng thực quản gây hẹp khí quản và dò khí thực quản. Còn 2 ca là do hẹp khí quản dưới lỗ mở khí quản (stoma). 1 ca sẹo hẹp do lao kéo dài toàn bộ từ cổ xuống phế quản gốc phải. Bệnh nhân này được mổ 2 lần, lần thứ nhất xử lý phế quản gốc phải và khí quản 1/3 giữa, lần 2 là khí quản cổ. Bn phải thở máy và nằm ICU hơn 1 tháng và tử vong. Đây cũng là trường hợp tổn thương khí phế quản dài nhất mà chúng tôi gặp, và cũng là ca tử vong duy nhất trong nghiên cứu này.

12 ca tổn thương khí quản 1/3 trên đều do di chứng của mở khí quản kéo dài. Tổn thương hẹp hoặc đứt rời hoàn toàn khí quản trên lỗ mở khí quản.

Dò thực quản thường ở vị trí cổ, có 1 trường hợp dò ở nền cổ, gây khó khăn cho việc khâu đường dò, bệnh nhân này sau có hẹp thực quản, phải nong 3 lần thì ăn uống được bình thường. Trong 20 trường hợp hẹp khí quản có 6 trường hợp có dò khí thực quản, một trường hợp chỉ có dò khí thực quản mà không có hẹp khí quản.

Rò thực quản phối hợp hẹp khí quản

7

Rò thực quản không có hẹp khí quản

1

 

4. Nguyên nhân tổn thương:

Đặt ống NKQ kéo dài

Chấn thương

Vết thương

Hóa chất

Lao

15

4

1

2

4

57,6%

15,3%

3,8%

7,6%

15,3%

 

5. Chiều dài khí quản mất đoạn:

Trong 26 ca có 25 ca có phẫu thuật khí quản, 1 ca chỉ có dò khí thực quản mà không có hẹp khí quản, 1 ca có hẹp khí quản và dò khí thực quản nhưng chỉ được chỉ định phẫu thuật đóng đường dò khí thực quản, không phẫu thuật khí quản do tổn thương dính dây thanh âm bít đường thở phía trong miệng. Trong 23 ca có hẹp khí quản, độ dài đoạn khí quản mất đoạn sau khi đã cắt bỏ phần khí quản tổn thương tới phần có khẩu kính bình thường hoặc chấp nhận được trước khi nối tận tận như sau:

≤ 2 cm

2-4 cm

4-5 cm

>5 cm

4

18

2

2

15,3%

69,2%

7,6%

7,6%

 

Trong 2 trường hợp mất đoạn > 5cm, 1 là trường hợp thất bại, bung miệng nối khí quản 3 ngày sau mổ. Trường hợp này được phẫu thuật 2 lần thất bại ở một cơ sở khác trước khi đến với chúng tôi. Trường hợp thứ 2 là ca sẹo hẹp do lao kéo dài từ cổ tới phế quản gốc phải. Ca này tử vong sau 2 lần phẫu thuật và hơn 1 tháng thở máy ở ICU.

6. Chiều dài miệng rò thực quản:

2,5cm ± 0,5 cm

7. Thời gian từ khi tổn thương tới khi được phẫu thuật:

6 - 12 tháng

•  2 năm

3-5 năm

Trên 5 năm

Tổng số

7

11

7

1

26

 

Tất cả đều là di chứng chấn thương, vết thương hoặc do mở khí quản kéo dài, hoặc sẹo hẹp do lao đã được đặt stent nhiều lần thất bại. Những tổn thương là cũ, lâu ngày, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh. Nhiều trường hợp nếu không phẫu thuật sẽ tử vong do bít đường thở hoặc viêm phổi nặng. Phẫu thuật những trường hợp này thường khó do dính.

8. Kết quả phẫu thuật:

Tốt

Khá

Trung bình

Thất bại

Tử vong

19

2

2

2

1

73%

7,6%

7,6%

7,6%

3,8%

 

Tốt: 19 trường hợp (73%) bệnh nhân trở về cuộc sống bình thừơng, bỏ được ống mở khí quản và ống nuôi ăn ở bụng, nội soi sau mổ cho thấy khí quản hoàn toàn thông thoáng, không chít hẹp. Thực quản liền tốt, người bệnh ăn tự nhiên

Khá: 2 trường hợp (9.5%). Một bệnh nhân bị khàn tiếng sau phẫu thuật, một bị hẹp thực quản sau phẫu thuật, phải nong 3 lần sau đó mới ăn uống được.

Trung bình: 2 trường hợp (4.8%). Một chỉ đóng được đường dò khí - thực quản, còn khí quản do soi thấy dây thanh biến dạng, dính chặt bịt hoàn toàn đường thở ở miệng, phẫu thuật được chỉ định chỉ đóng đường dò thực quản – khí quản, không can thiệp vào khí quản. Một là sẹo hẹp dạng nhuyễn phế quản gốc trái đã được đặt stent nhiều lần nhưng stent luôn bị trượt xuống dưới phải phối hợp với phẫu thuật ghép dẻ xương sườn vào phế quản trái (do bs Pháp thực hiện ở một bệnh viện bạn). Sau đó phổi trái câm hoàn toàn và viêm nặng, chúng tôi phải phấu thuật lấy bỏ stent, lấy bỏ mảnh xương sườn ghép ngoài, cắt ngắn phế quản gốc trái. Sau mổ, phế quản gốc trái hẹp lại, được đặt stent và stent ổn định, tốt, không trượt nữa.

Kém: 2 trường hợp (9.5%), 1 bệnh nhân bị đứt rời chỗ nối khí quản sau 3 ngày phẫu thuật, phải mở khí quản lại, 1 trường hợp sau phẫu thuật bị hẹp lại

Tử vong: 1 trường hợp. Đây là trường hợp sẹo hẹp do lao kéo dài từ cổ xuống tới phế quản gốc phải. Bn khó thở nặng, được phẫu thuật 2 thì, lần 1 cắt bỏ sẹo hẹp phế quản gốc phải, tái tạo carina nhưng bn còn đoạn hẹp ở cổ đòi hỏi phẫu thuật lần 2 ở cổ. Khí quản mất đoạn lớn, bn thở máy lâu ngày ở ICU và tử vong.

•  BÀN LUẬN

Phẫu thuật khí quản và nối khí quản tận tận đã được đề cập từ lâu. Tuy nhiên khí quản là cơ quan duy nhất, có chiều dài nhất định (khoảng 12 cm với khoảng 18 – 22 vòng sụn) và tới nay vẫn chưa có vật liệu thay thế nên phẫu thuật khí quản ẩn chứa nhiều nguy cơ. Vấn đề quan trọng là vị trí tổn thương và độ dài của đoạn khí quản bị mất đoạn sau khi cắt bỏ phần khí quản bị tổn thương. Belsey năm 1950 đã tuyên bố những mất đoạn khí quản > 2cm là không thể nối tận tận trực tiếp được ( 1 ) . Chính vì vậy phẫu thuật khí quản nhất là ở vị trí khó tiếp cận như 1/3 giữa và có mất đoạn lớn > 2cm vẫn được đánh giá là phẫu thuật khó.

Tổn thương 1/3 trên khí quản thường do đặt ống kéo dài hoặc do hít hoặc uống phải hóa chất. Sẹo hẹp hoặc/và rò khí quản thực quản làm cho khó có thể rút ống mở khí quản. Để ống càng lâu, mức độ hẹp và rò càng nặng. Với loại tổn thương này chúng tôi luôn mở đường cổ ngang qua và bao gồm lỗ mở khí quản (stoma)

Tổn thương khí quản 1/3 giữa thường gặp do chấn thương, vết thương hoặc hẹp dưới chỗ mở khí quản để lâu, nó cũng thường phối hợp với rò khí thực quản như đối với tổn thương 1/3 trên. Đây là vị trí rất khó tiếp cận nếu chỉ mổ ở cổ hoặc mở ngực phải. Với đường mở cổ thì tổn thương ở quá thấp và với đường mở ngực phải thì tổn thương lại ở quá cao. Với những đường mổ này vẫn có thể tiếp cận tổn thương được nhưng khó khăn và có thể không xử lý hết đoạn tổn thương cần thiết, dễ gây hẹp tái phát. Đường thích hợp nhất là phối hợp mở cổ với chẻ xương ức bán phần hoặc toàn phân, khí quản được tiếp cận qua việc mở màng tim và tách rẽ tĩnh mạch chủ trên và phần lên của quai động mạch chủ. Tuy nhiên đường mổ này phức tạp hơn và cần có kinh nghiệm phẫu thuật.

Vị trí tổn thương khí quản 1/3 dưới, carina và phế quản gốc thường là do chấn thương. Những tổn thương này không được chú ý đúng mức trong lần nhập viện đầu (ngay khi bị chấn thương). Sau một thời gian, những tổn thương này trở thành vấn đề, khó thở dữ dội với chấn thương khí quản và xẹp phổi hoàn toàn với tổn thương phế quản gốc bên phổi xẹp. Bệnh nhân tới khám và được phát hiện tổn thương. Thường thì các phế quản gốc hẹp nặng hoặc đứt rời. Khí quản thì có thể hẹp 1,2 hoặc 3 chỗ như một trường hợp mà chúng tôi đã gặp. Đường tiếp cân tốt nhất là mở ngực phải cho những tổn thương khí quản, carina và phế quản gốc phải. Tổn thương phế quản gốc trái đơn thuần thì nên mở ngực trái.

Sẹo hẹp khí phế quản do lao có thể ở bất kỳ vị trí nào của khí phế quản. Sẹo hẹp do lao thường phối hợp với nhuyễn khí phế quản nên nếu chỉ cắt đoạn sẹo hẹp không thì phần khí quản nhuyễn vẫn gây khó thở, dòi hỏi phải đặt stent lại. Thường phải cắt cả đoạn khí phế quản bị nhuyễn thì kết quả phẫu thuật mới tốt, không phải đặt stent lại.

Mất đoạn khí quản lớn là một vấn đề quan trọng trong phẫu thuật. Tuyên bố của Belsey đã không còn phù hợp do những tiến bộ của phẫu thuật và gây mê hồi sức. Khi gập đầu hoàn toàn, khí quản cổ gần như nằm hoàn toàn trong ngực và nếu có bóc tách tốt, khí quản ngực cũng có thể đưa lên cổ khá nhiều. Bóc tách thêm hai phế quản gốc thì khả năng di động của khí quản ngực càng lớn. Xẻ màng tim dưới rốn phổi cũng có thể góp phần kéo khí quản lên trên thêm được tới gần 1cm.

 

 

Với khí quản cổ: có thể nối tận tận cho đoạn mất dài tới 4 cm. Nếu bóc tách vào lồng ngực có thể thêm 1,5 cm

Với khí quản ngực: cho phép tới 3 cm. Nếu bóc tách phế quản gốc 2 bên và đặc biệt là phế quản gốc trái thì thêm được 2,5cm.

 

Trong nhóm tổn thương muộn, mất đoạn lớn thường hay gặp, thách thức cho việc nối tận tận. Trong nghiên cứu này, tổn thương mất đoạn phổ biến từ 2-4 cm, không phải là vấn đề lớn cho nối tận. Trường hợp mất đoạn lớn hơn cần thận trọng, bóc tách đủ hơn, đặt mũi khâu gần nhau hơn , cần có 2- 3 m mối anchor (mối đính kéo) và thời gian khâu gập đầu cần để lâu hơn. Trường hợp bung mối nối của chúng tôi tuy là mất đoạn lớn nhưng cũng một phần do cắt mối khâu gập đầu sớm vào ngày thứ 2 sau mổ. Những trường hợp sau chúng tôi để tới 4 – 6 ngày cho kết quả tốt hơn.

Rò khí thực quản mà không có hẹp khí quản cũng không phải là hiếm, nhưng có sự khác nhau giữa nhóm được phẫu thuật sớm và muộn. Macchiarini tổng kết kinh nghiệm trong 18 năm có 32 ca rò khí thực quản được phẫu thuật sớm chỉ có 13 ca có hẹp khí quản phối hợp, trong đó 3 ca hẹp dưới thanh môn và 10 ca hẹp khí quản ( 3 ) . Trong 7 ca rò khí thực quản tới muộn, chúng tôi chỉ gặp có 1 ca không có hẹp khí quản còn 6 ca còn lại đều có hẹp khí quản.

Khâu đường rò thực quản thực chất là tách rời thực quản khỏi khí quản và khâu lại mặt trước thực quản. Nhiều tác giả khuyến cáo nên để một ít cơ hay màng giữa thực quản và khí quản để phòng tái rò nhưng trong thực tế chúng tôi không áp dụng và không thấy có rò trở lại.

•  KẾT LUẬN

Phẫu thuật tổn thương muộn khí quản và rò khí quản – thực quản là hoàn toàn khả thi cho dù tổn thương ở những vị trí phức tạp, đoạn khí quản tổn thương lớn và có rò khí thực quản. Kết quả phẫu thuật khả quan, cứu sống người bệnh ở những trường hợp chấn thương có đứt rời phế quản gốc đến muộn. Trả lại cuộc sống bình thường cho những có mở khí quản và mở đường tiêu hóa nuôi ăn dài ngày. Phẫu thuật phục hồi mất đoạn khí quản không còn giới hạn ở mốc 2cm như Belsey đã từng tuyên bố năm 1950 mà đã được nới rộng rất nhiều tùy thuộc vào cơ sở ngoại khoa và kinh nghiệm phẫu thuật. Tỷ lệ thành công ở mức 88,4% và tỷ lệ tử vong bằng 3,8% ở nghiên cứu này cho thấy lợi ích của việc phẫu thuật. Từ những ca thất bại, chúng tôi mạnh dạn khuyến cáo mở xương ức trong trường hợp tổn thương khí quản1/3 giữa và cắt bỏ triệt để tổn thương khí quản cho tới khẩu kính bình thường mà không sợ mất đoạn khí quản lớn. Bóc tách rộng rãi và phối hợp cổ ngực cho phép nối tận tận khí quản ở mức độ mất đoạn khá lớn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Belsey R. Resection and reconstruction of the intrathoracic trachea. Br J Surg 1950;38:200
  2. Kato I , Iwatake H , Tsutsumi K , Koizuka I , Suzuki H , Nakamura T . End-to-end anastomosis in chronic tracheal stenosis. Auris Nasus Larynx. 2003 Feb;30 Suppl:S69-73.
  3. Macchiarini et al. Evaluation and outcome of different surgical technique for postintubation tracheoesophageal fistulas. J Thorac Cardiovasc Surg 2000;119:268-76)
  4. Mandour M . Chronic subglottic and tracheal stenosis: endoscopic management vs. surgical reconstruction. Eur Arch Otorhinolaryngol. 2003 Aug;260(7):374-80.
  5. Mathisen DJ, Grillo HC, Wain JC, Hilgenberg AD. Management of acquired nonmalignant tracheoesophageal fistula. Ann Thorac Surg 1991;52:759-65.
  6. Rodney J Landreneau et al. Management of an extensive tracheoesophageal fistula by cervical esophageal exclusion. Chest 1991; 99:777-80
  7. William J. Reed et al. Tracheoesophageal fistula after blunt chest trauma. Ann Thorac Surg 1995; 59: 1251-6
Nguồn: Hội PT TM & LN Việt Nam
  Đầu trang   |   In ấn 
Các bài viết khác: