Đánh giá kết quả điều trị vết thương thấu ngực tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông trong 5 năm 2005-2009
Từ tháng 1/2005 đến 12/2009, có 57 trường hợp bị vết thương thấu ngực được điều trị tại Khoa Chấn thương Bệnh viện Đa khoa Hà Đông. Các bệnh nhân được xử trí khâu vết thương và dẫn lưu kín khoang màng phổi (77,19%), mở ngực (15,78%). Các biến chứng chính là dày dính màng phổi (10,52%), nhiễm trùng vết thương và vết mổ (14,03%). Có 1,75% bệnh nhân tử vong. Áp dụng và triển khai phẫu thuật nội soi trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân bị vết thương thấu ngực trong tương lai là việc làm cần thiết và có hiệu quả.

(RESULT OF TREATMENT FOR PLEUROPULMONARY WOUNDS AT HA DONG GENERAL HOSPITAL FOR 5 YEARS 2005-2009)

Nguyễn Ngọc Thành, Hoàng Xuân Tuệ, Trần Quang Toản

 

 

Tóm tắt: Từ tháng 1/2005 đến 12/2009, có 57 trường hợp bị vết thương thấu ngực được điều trị tại Khoa Chấn thương Bệnh viện Đa khoa Hà Đông. Các bệnh nhân được xử trí khâu vết thương và dẫn lưu kín khoang màng phổi (77,19%), mở ngực (15,78%). Các biến chứng chính là dày dính màng phổi (10,52%), nhiễm trùng vết thương và vết mổ (14,03%). Có 1,75% bệnh nhân tử vong. Áp dụng và triển khai phẫu thuật nội soi trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân bị vết thương thấu ngực trong tương lai là việc làm cần thiết và có hiệu quả.  

Summary: From 1/2005 to 12/2009, at the Traumatic Department of Ha Dong General Hospital, there were 57 emergency cases of pleuropulmonary wounds were cured. Closed the chest and tube thoracostomy (77.19%), thoracostomy (15.78%). Major complications were fibrothorax 10.52%, infection of wound incision 14.03%, and mortality 1.75%. The application and working out of “Video Assisted Thoracic Surgery” in diagnosis and treatment for pleuropulmonary wounds are necessary and effective for the future.

•  ĐẶT VẤN ĐỀ

Vết thương thấu ngực là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp, cùng với sự gia tăng của bạo lực xã hội thì vết thương thấu ngực cũng ngày càng tăng cao.

Hằng năm, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông cấp cứu và điều trị bệnh nhân (BN) bị vết thương thấu ngực, nhưng chưa có nghiên cứu đánh giá cụ thể về vấn đề này. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá kết quả điều trị vết thương thấu ngực tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông

trong 5 năm 2005-2009”.

Mục tiêu của đề tài:

1. Điểm lại tình hình cấp cứu, điều trị bệnh nhân bị vết thương thấu ngực trong 5 năm (2005-2009).

2. Rút ra một số kinh nghiệm nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác cấp cứu, điều trị bệnh nhân bị vết thương thấu ngực.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng:

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:

Các bệnh nhân bị vết thương thấu ngực đơn thuần, được cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông trong 5 năm từ 2005-2009.

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:

Các bệnh nhân bị vết thương ngực bụng hoặc vết thương tim.

2.1.3. Đánh giá kết quả:

- Về lâm sàng:

+ Tốt: bệnh nhân khỏi, không có biến chứng.

+ Trung bình: nhiễm trùng vết mổ hoặc vết thương.

+ Xấu: suy hô hấp, mủ màng phổi.

+ Tử vong.

- Về cận lâm sàng:

+ Tốt: phổi nở hoàn toàn hoặc chỉ dày dính góc sườn hoành.

+ Trung bình: dày dính dưới 1/3 phổi

+ Xấu: dày dính trên 1/3 phổi hoặc còn ít dịch khoang màng phổi

- Biến chứng: nhiễm trùng vết thương hoặc vết mổ, suy hô hấp, dày dính màng phổi, mủ màng phổi,…

2.2. Phương pháp nghiên cứu:

Thống kê mô tả hồi cứu và tiến cứu.

Số liệu nghiên cứu được hồi cứu từ hồ sơ lưu trữ (giai đoạn 2005- 2006) và tiến cứu từ hồ sơ bệnh nhân vào cấp cứu trong các năm từ 2007-2009 theo một biểu mẫu thống kê bao gồm :

+ Các thông số về: tuổi, giới, nghề nghiệp và nguyên nhân gây vết thương.

+ Các dấu hiệu: lâm sàng, X quang lồng ngực, siêu âm khoang màng phổi, và thủ thuật cấp cứu điều trị(chọc hút, dẫn lưu, mở ngực).

+ Kết quả sớm sau phẫu thuật : thời gian rút dẫn lưu, thời gian nằm viện, biến chứng, di chứng và tử vong.

III. KẾT QUẢ

3.1. Tuổi:

Thấp nhất: 14 tuổi; Cao nhất: 64 tuổi; Trung bình: 32,27 tuổi.

3.2. Giới:

Nam : 55 BN (96,49%); Nữ: 2 BN (3,51%).

3.3. Nghề nghiệp:

Học sinh, sinh viên: 14 BN (24,56%); Lao động tự do: 40 BN (70,18%);

Đối tượng khác: 3 BN (5,26%).  

3.4. Nguyên nhân:

Do vật sắc nhọn: 53 BN (92,98%); Nguyên nhân khác: 4 BN (7,02%).

3.5. Thời gian từ khi bị thương tới khi nhập viện:  

Thời gian (giờ)

<6

 

6-24

>24

Tổng

Số lượng

47

 

8

2

57

%

82,47

 

14,03

3,50

100

3.6. Thời gian từ khi nhập viện đến khi có xử trí ngoại khoa:  

Thời gian (giờ)

<6

 

6-24

>24

Tổng

Số lượng

39

 

17

1

57

%

68,44

 

29,81

1,75

100

 

- Thời gian xử trí nhanh nhất sau 30 phút.

- Thời gian xử trí chậm nhất sau 48 giờ.

- Thời gian xử trí trung bình 4,2giờ.

3.7. Thời gian để dẫn lưu:

- Ngắn nhất: 15 giờ.

- Dài nhất: 96 giờ.

- Trung bình: 2,30 ngày

3.8. Thời gian nằm viện:

Thời gian nằm viện trung bình 8,5 ngày .

3.9. Dấu hiệu lâm sàng chính:  

Dấu hiệu

Số lượng

%

- Khó thở

36

63,15

- Đau tức ngực

48

84,21

- Sốc

9

15,78

- Phì phò khí - máu qua

vết thương

11

19,28

- Tràn khí dưới da

15

26,31

- Hội chứng ba giảm

46

80,70

 

 

3.10. Chẩn đoán hỗ trợ:

X quang: 53 BN (92,98%); Siêu âm: 50 BN (87,71%); Chọc hút: 5 BN (8,77%).

3.11. Sơ cứu vết thương:

Băng vết thương: 39 BN (68,43%); Khâu vết thương: 13 BN (22,80%);

Không sơ cứu: 5 BN (8,77%).

3.12. Điều trị thực thụ:  

Điều trị

Chọc hút

Dẫn lưu

Mở ngực

Số lượng

4

44

9

%

7,01

77,19

15,78

- Mở ngực kỳ đầu: 7 BN (12,28%).

- Mở ngực kỳ hai: 2 BN (3,50 %).

3.13. Biến chứng:  

Biến chứng

Số lượng

%

- Nhiễm trùng vết thương, vết mổ

8

14,03

- Dày dính màng phổi

6

10,52

- Mủ màng phổi

1

1,75

3.14. Kết quả điều trị:

Tốt: 41 BN (71,94%); Trung bình: 14 BN (24,56%); Xấu: 1 BN (3,50%);

Tử vong: 1BN (1,75%).  

IV. BÀN LUẬN

4.1. Nguyên nhân gây vết thương thấu ngực:

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nguyên nhân vết thương thấu ngực do vật sắc nhọn chiếm đa số (92,98 %). Theo Trần Quyết Tiến (Bệnh viện Chợ Rẫy), tổn thương do dao và vật sắc nhọn chiếm 85,43%, do hỏa khí chiếm 14,57% [4] . Tại các nước Âu, Mỹ tỉ lệ vết thương ngực do hỏa khí chiếm đa số (theo Siemens R., vết thương thấu ngực do hỏa khí chiếm 77% trong số 125 BN [6] ; theo Shields và Thomas W, vết thương do vật sắc nhọn và hỏa khí chiếm 80-85% [7] ).

Nguyên nhân do vật sắc nhọn trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn của các tác giả khác, có thể liên quan đến một số biến động trong địa bàn tỉnh Hà tây (cũ) trong vài năm gần đây làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa những người dân, như vấn đề tranh chấp đất đai, các tệ nạn xã hội gia tăng.

4.2. Thời gian nhập viện và can thiệp ngoại khoa:

Bệnh nhân được nhập viện hầu hết trong 6 giờ đầu (82,47%). Các bệnh nhân được can thiệp ngoại khoa ngay bằng chọc hút khoang màng phổi, dẫn lưu khoang màng phổi hoặc mở ngực kỳ đầu. 1 trường hợp được can thiệp sau 24 giờ do bỏ sót tổn thương trên bệnh nhân bị rất nhiều vết thương nhỏ do dao nhíp đâm, ngày hôm sau khi chụp phim kiểm tra lại chúng tôi mới phát hiện bệnh nhân bị tràn khí tràn máu khoang màng phổi. Vì vậy, để tránh bỏ sót tổn thương do cùng một lúc phải tiếp nhận số bệnh nhân vào cấp cứu đông và có nhiều tổn thương, việc khám toàn diện và kiểm tra lại sau 6 giờ là cần thiết. Theo Kerr T.M, một vết thương thấu ngực tiến triển từ không thành có tràn khí hoặc tràn máu khoang màng phổi thường xảy ra trong 6 giờ đầu [5] . Theo Sabiston và Spencer, chụp X quang phổi sau 6 giờ là thích hợp để phát hiện tràn khí tràn máu khoang màng phổi muộn [8] .

Thời gian trung bình được can thiệp ngoại khoa là 4,2 giờ. Thời gian này trong nghiên cứu của Đoàn Duy Hùng (Bệnh viện Saint Pault Hà Nội) là 6 giờ [ 2] .

4.3. Các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng:

Đa số bệnh nhân đều có các triệu chứng về ngực như: đau tức ngực, khó thở, vết thương phì phò, hội chứng ba giảm. Đặc biệt các bệnh nhân vào viện trong tình trạng sốc chiếm tỉ lệ khá lớn (15,78 %).

Với những bệnh nhân bị vết thương ngực, nên chỉ định chụp X quang và siêu âm khoang màng phổi để kiểm tra ngay sau khi vào viện và kiểm tra lại khi cần thiết vì các kỹ thuật này giúp cho chẩn đoán và điều trị kịp thời. Quan điểm của chúng tôi cũng giống như quan điểm của một số tác giả khác như Đoàn Duy Hùng [2] , Trần Quyết Tiến [4] .

4.4. Xử trí:

Chúng tôi áp dụng kỹ thuật dẫn lưu khoang màng phổi cho 77,19% BN. Tỉ lệ này cao hơn so với các tác giả khác như: Đoàn Duy Hùng (66%) [2] , Trần Quyết Tiến (68,84%) [4] , và thấp hơn của Shields, Thomas W (85%) [7] .

Tỉ lệ mở ngực chiếm 15,78%, trong đó mở ngực kỳ đầu là 12,28% và mở ngực kỳ hai là 3,50 %. Đoàn Duy Hùng (Bệnh viện Saint Pault) mở ngực kỳ đầu là 10,66% và mở ngực kỳ hai 5,33% [2] . Trần Quyết Tiến (Bệnh viện Chợ Rẫy) mở ngực 28,14% [4] . Tỉ lệ mở ngực của chúng tôi tương đương với tác giả Đoàn Duy Hùng, nhưng thấp hơn Trần Quyết Tiến do Bệnh viện Chợ Rẫy là bệnh viện tuyến cuối có chuyên khoa lồng ngực, nên phải nhận các bệnh nhân nặng từ tuyến dưới chuyển tới.

Tuy nhiên, vấn đề mở ngực cũng cần phải cân nhắc thận trọng, đúng chỉ định. Việc áp dụng phẫu thuật nội soi trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân bị vết thương thấu ngực sẽ làm giảm đáng kể tỉ lệ mở ngực, tránh hậu quả nặng nề cho bệnh nhân.  

V. KẾT LUẬN

Nghiên cứu 57 bệnh nhân bị vết thương thấu ngực, được cấp cứu điều trị tại Khoa Chấn thương Bệnh viện Đa khoa Hà Đông trong 5 năm (2005-2009), nhận thấy: dẫn lưu kín khoang màng phổi là kỹ thuật điều trị cơ bản giúp điều trị khỏi 77,19% BN, tỉ lệ mở ngực chiếm 15,78%. Biến chứng chính là dày dính màng phổi (10,52%), nhiễm trùng vết mổ và vết thương (14,03%). Tỉ lệ tử vong chiếm 1,75%.

VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO  

1. ĐẶNG HANH ĐỆ: Thái độ xử trí trong chấn thương lồng ngực. Trong: Cấp cứu ngoại khoa tim mạch, lồng ngực - Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2005, 7-20.

2. ĐOÀN DUY HÙNG: Nhận xét tình hình tràn khí tràn máu khoang màng phổi trong 2 năm 2003-2004 tại bệnh viện Saint Pault Hà nội - Kỷ yếu hội nghị khoa học Tim mạch, lồng ngực lần thứ 1, 2005, 61-66.

3. NGUYỄN CÔNG MINH: Chấn thương ngực - Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 2005, 1-22, 54-55, 60-78.

4. TRẦN QUYẾT TIẾN: Chẩn đoán và điều trị cấp cứu vết thương phổi-màng phổi. Ykhoanet.

5. KERR T.M: Prospective trial of the six hours rule in stab wounds of the chest - Surg. Gynecol & Obstet,1989, 169, 223-5.

6. SIEMENS R. ,POLD H.C,GRAY: Indication for thoracostomy following penetrating thorax - J.Trauma 1982, 17, 943-500.

7. THOMAS W. SHIELDS: Chapter 70, Blunt and Penetrating Injuries of the Chest Wall, Pleura, and Lungs - General Thoracic Surgery, 6 th edition. Lippincott Williams & Wilkins, 952-971.

8. SABISTON, SPENCER: Chapter 7, Thoracic Trauma - Surgery of the Chest, 7 th edition. Anne Lenehan.

Họ và tên: NGUYỄN NGỌC THÀNH

Địa chỉ cơ quan: Khoa chấn thương, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông,

Số 2, Bế Văn Đàn, Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội.

Điện thoại: 0979861679.

E-mail: ngngthanhctht@yahoo.com.vn

Nguồn: Hội PT TM & LN Việt Nam
  Đầu trang   |   In ấn 
Các bài viết khác: