Vai trò cua nội soi lồng ngực trong vết thương ngực hở khó
Vết thương ngực hở là thương tổn thường gặp trong cấp cứu ngoại khoa, với khoảng 27,9% cần điều trị bằng mở ngực cấp cứu. Khi lỗ vào của vết thương ở 1 số vùng khó, như từ cổ xuống, thì đôi khi cầm máu rất khó với đường ngực thông thường. Phân tích hồi cứu một số ca kết hợp mở ngực với nội soi lồng ngực cho phép thấy được vai trò quan trọng của nội soi cho các trường hợp này.

Nguyễn Hữu Ước 

Đặt vấn đề: Vết thương ngực hở là thương tổn thường gặp trong cấp cứu ngoại khoa, với khoảng 27,9% cần điều trị bằng mở ngực cấp cứu. Khi lỗ vào của vết thương ở 1 số vùng khó, như từ cổ xuống, thì đôi khi cầm máu rất khó với đường ngực thông thường. Phân tích hồi cứu một số ca kết hợp mở ngực với nội soi lồng ngực cho phép thấy được vai trò quan trọng của nội soi cho các trường hợp này. 

Phương pháp: Gồm 2 ca vết thương ngực hở (3-4 / 2010) được mô tả hồi cứu về đặc điểm chẩn đoán, kỹ thuật mổ, và kết quả sớm sau mổ.

Kết quả:

(1)   Nam giới – 29 tuổi, bị đâm bằng dao với 7 vết thương – trong đó có 3 vết ở nền cổ trái, 1 ở thành ngực phải, và 3 ở vùng khác. Chẩn đoán ban đầu là tràn máu màng phổi trái nặng do vết thương ngực hở nghi có tổn thương bó mạch dưới đòn. Sau khi dẫn lưu màng phổi ra > 1000 ml máu, bị rơi vào tình trạng sốc mất máu nặng. Mở đường trên đòn trái + cắt xương đòn nhưng không thấy được thương tổn gây chảy máu tương ứng. Với đường mở ngực bên qua khoang liên sườn 5 cũng chỉ thấy máu chảy nhiều từ đỉnh phổi, nhưng không xác định được vị trí chảy máu chính xác. Quyết định dùng nội soi ngực hỗ trợ, qua đó dễ dàng xác định điểm chảy máu sát sau xương ức. Với 1 đường mở dọc ½ trên xương ức, dã thấy thương tổn là vết thương xuyên 2 mặt tĩnh mạch ngay chỗ nối tĩnh mạch dưới đòn – cảnh trong trái. Xử trí bằng khâu phục hồi tĩnh mạch cầm máu. Nhưng với tổng lượng máu mất trong mổ > 4 lít, nên diễn biến hậu phẫu khá nặng nề do rối loạn đông máu và nhiễm trùng phổi, phải mở khí quản và thở máy 37 ngày.

(2)   Nam giới – 23 tuổi, bị đâm bằng dao vào nền cổ trái sát 1/3 ngoài xương đòn. Chẩn đoán là sốc mất máu do vết thương ngực hở nặng, nghi tổn thương bó mạch dưới đòn trái. Với đường mở trên đòn, không tim thấy thương tổn mạch máu. Rút kinh nghiệm từ ca đầu tiên, quyết định nội soi lồng ngực được đưa ra trước khi mở ngực. Sau khi hút bỏ 2000 ml máu đông trong khoang màng phổi, đã xác định được hướng đi của vết thương và điểm chảy máu – từ 1 động mạch cạnh bờ trái cột sống sát đỉnh phổi. Mở ngực nhỏ qua khoang liên sườn 5 + nội soi hỗ trợ để cầm máu. Diễn biến hậu phẫu thuận lợi với 3 ngày nằm viện.

Kết luận: Vết thương ngực hở với lỗ vào ở vùng trên đòn luôn luôn là những ca khó trong chẩn đoán và điều trị. Mặc dù tình trạng lâm sàng khá cấp tính, song nội soi lồng ngực hỗ trợ có thể giúp xác định chính xác vị trí chảy máu ở vùng đỉnh phổi, chỉ ra đường tiếp cận thương tỏn hợp lý, và hỗ trợ với mở ngực để kiểm soát tổn thương.

 

Nguồn: Hội PT TM & LN Việt Nam
  Đầu trang   |   In ấn 
Các bài viết khác: